Trương Văn Quý – Digital Marketing & AILiên hệ tư vấn
Nền tảng & Mô hình chiến lược

OKR là gì: cách đặt mục tiêu và kết quả then chốt theo quý, có AI hỗ trợ

Trương Văn Quý
Tranh cắt giấy: lá cờ đỏ ghi Mục tiêu cắm trên đỉnh núi xanh ngọc, ba dải giấy nối xuống ba thanh tiến độ KR1, KR2, KR3 đầy ở các mức khác nhau, mỗi thanh có một đồng hồ nhỏ; từ KR2 hai đường chấm dẫn xuống hai ngọn đồi nhỏ cắm cờ cam

Cuối quý, trưởng phòng mở bảng việc ra báo cáo: 46 đầu việc, 44 việc đã xong. Cả phòng đã làm việc chăm chỉ. Rồi giám đốc hỏi: “Khách hàng có hài lòng hơn quý trước không? Doanh thu có tăng không?”, và không ai trả lời được bằng một con số.

Minh hoạ phong cách báo chí: người quản lý mặc áo polo xanh đứng trước bức tường dán kín giấy ghi chú đều có dấu tích xanh, tay ôm đầu; bên cạnh một nhân viên nữ gục bên máy tính có biểu đồ đường nằm ngang; ngoài cửa kính là hàng xe tải đứng chờ ở bến bốc hàng và chồng thùng hàng
Mọi đầu việc đều đã đánh dấu xong, nhưng đường kết quả trên màn hình vẫn nằm ngang.

Đây là khoảng trống mà OKR được sinh ra để lấp: khoảng cách giữa “đã làm gì” và “đã thay đổi được gì”. Bài này giải thích OKR từ nguồn gốc, cách viết, cách chấm điểm, cách nối các phòng ban với nhau, và đi hết một ví dụ quý cho một công ty giao nhận.

OKR là gì: một mục tiêu và vài con số chứng minh đã tới nơi

OKR là viết tắt của Objectives and Key Results, tạm dịch là mục tiêu và kết quả then chốt. Một bộ OKR gồm hai phần:

  • Mục tiêu (Objective): điều doanh nghiệp muốn đạt được, viết bằng lời, ngắn và đủ rõ để mọi người nhớ. Mục tiêu không chứa con số. Ví dụ: “Trở thành đơn vị giao hàng mà các shop online tin nhất về đúng hẹn”.
  • Kết quả then chốt (Key Results, viết tắt KR): 2–5 con số cho biết mục tiêu đã đạt hay chưa. Mỗi KR có điểm xuất phát, đích đến và thời hạn. Ví dụ: “Tỷ lệ giao đúng hẹn nội thành từ 88% lên 96%”.

Cách hiểu đơn giản nhất là hai câu hỏi. Mục tiêu trả lời “doanh nghiệp muốn đi đâu?”. Kết quả then chốt trả lời “làm sao biết mình đang tới gần?”. Nếu đọc hết các KR mà vẫn không chắc mục tiêu đã đạt, bộ OKR đó còn thiếu.

OKR thường chạy theo chu kỳ quý. Ba tháng đủ dài để tạo ra thay đổi thấy được và đủ ngắn để sửa hướng trước khi quá muộn. Nhiều doanh nghiệp đặt thêm OKR năm cho cấp công ty, rồi chia nhỏ theo từng quý.

OKR do ai tạo ra: từ Andy Grove ở Intel đến “Measure What Matters”

Gốc xa của OKR là quản trị theo mục tiêu (Management by Objectives, MBO), được Peter Drucker phổ biến trong cuốn The Practice of Management năm 1954. Ý của Drucker là người quản lý nên được đánh giá theo mục tiêu đã thống nhất, thay vì theo mệnh lệnh từ trên xuống.

Andy Grove, khi là một trong những người lãnh đạo Intel thập niên 1970, sửa MBO thành một hệ thống gọn hơn mà nội bộ Intel gọi là iMBO. Grove thêm phần kết quả then chốt và mô tả hệ thống qua hai câu hỏi: “Where do I want to go?” (mình muốn đi đâu, tức mục tiêu) và “How will I pace myself to see if I am getting there?” (mình đo nhịp thế nào để biết mình đang tới gần, tức kết quả then chốt). Ông viết lại cách làm này trong cuốn High Output Management (1983).

John Doerr học OKR trong một khoá nội bộ do Grove giảng ở Intel năm 1975. Sau khi chuyển sang làm đầu tư mạo hiểm, Doerr giới thiệu phương pháp này cho nhiều công ty ông rót vốn, rồi viết cuốn Measure What Matters (Portfolio/Penguin, 2018). Cuốn sách này đưa OKR ra khỏi giới công nghệ và là lý do phần lớn doanh nghiệp biết tới OKR hôm nay. Hướng dẫn “Set goals with OKRs” của Google trên trang re:Work là tài liệu công khai thứ hai hay được dẫn, nhất là cho phần chấm điểm.

Cấu trúc một bộ OKR và cách liên kết giữa các cấp Trên cùng là một mục tiêu cấp công ty, viết bằng lời. Mục tiêu nối xuống ba kết quả then chốt KR1, KR2, KR3, mỗi KR có thanh tiến độ và điểm cuối quý lần lượt 0,7; 0,4 và 1,0. Từ KR2, hai mũi tên dẫn xuống mục tiêu của phòng A và phòng B, gọi là liên kết dọc. Giữa phòng A và phòng B có đường nét đứt màu đỏ, gọi là liên kết ngang, thể hiện hai phòng phụ thuộc lẫn nhau. Dưới cùng là thang chấm điểm từ 0 đến 1,0. OKR CẤP CÔNG TY MỤC TIÊU (O) Điều muốn đạt, viết bằng lời KR1 Kết quả đo được 0,7 KR2 Kết quả đo được 0,4 KR3 Kết quả đo được 1,0 Liên kết dọc: KR cấp trên gợi ý mục tiêu cấp dưới Mục tiêu phòng A + 2–4 KR của phòng Mục tiêu phòng B + 2–4 KR của phòng Liên kết ngang phụ thuộc lẫn nhau Chấm điểm cuối quý từ 0 đến 1,0 · OKR cam kết cần 1,0 · OKR tham vọng đạt 0,6–0,7 là tốt
Một mục tiêu viết bằng lời, vài kết quả then chốt đo bằng số; KR của công ty trở thành gợi ý cho mục tiêu của từng phòng.

Cách viết một bộ OKR: mục tiêu, kết quả then chốt và chu kỳ quý

Mục tiêu: hỏi “quý này, điều gì thay đổi thì doanh nghiệp tốt lên rõ rệt?” Mục tiêu tốt có hướng, có lý do và đủ cụ thể để loại bớt việc. “Tăng trưởng mạnh” quá chung, vì phòng nào cũng tự nhận việc mình đang làm là tăng trưởng. “Giữ chân các shop đã gửi hàng thường xuyên” hẹp hơn, và người đọc biết ngay việc nào không phục vụ mục tiêu này.

Mỗi quý chỉ nên có 1–3 mục tiêu cho mỗi cấp. Hướng dẫn của Google gợi ý 3–5 mục tiêu, mỗi mục tiêu khoảng 3 KR, nhưng với doanh nghiệp vừa và nhỏ mới bắt đầu, ít hơn thường tốt hơn. Nhiều mục tiêu cùng lúc nghĩa là chưa chọn.

Kết quả then chốt: hỏi “con số nào sẽ khác đi nếu mục tiêu đạt được?” Mỗi KR nên có đủ ba phần: chỉ số, mức hiện tại, mức cần đạt. “Tăng tỷ lệ giao đúng hẹn” chưa phải KR. “Tỷ lệ giao đúng hẹn nội thành từ 88% lên 96%” là KR.

Ba phép thử cho từng KR:

  1. Đo được mà không cần tranh luận. Cuối quý, hai người nhìn cùng một dữ liệu phải ra cùng một con số.
  2. Là kết quả, không phải việc làm. “Triển khai phần mềm quản lý tuyến” là việc. “Thời gian xử lý đơn tại kho từ 5 giờ xuống 3 giờ” là kết quả mà phần mềm được kỳ vọng tạo ra.
  3. Các KR cộng lại đủ để chứng minh mục tiêu. Google gọi lỗi ngược lại là KR “cần nhưng chưa đủ”: đạt hết các KR mà mục tiêu vẫn chưa tới.

Chu kỳ: đặt đầu quý, xem lại hằng tuần, chấm điểm cuối quý. Họp xem lại hằng tuần chỉ cần 15–30 phút: mỗi KR đang ở đâu, có gì cản trở, cần ai hỗ trợ. OKR không được nhắc tới trong 6 tuần liền thì gần như chắc chắn sẽ bị quên cho tới buổi chấm điểm.

OKR cam kết và OKR tham vọng: chấm điểm 0–1,0 thế nào

Không phải OKR nào cũng cùng một kiểu. Tài liệu OKR của Google chia làm hai loại, và nhầm lẫn giữa hai loại là nguồn gốc của nhiều cuộc tranh cãi cuối quý.

OKR cam kết OKR tham vọng
Bản chất Việc doanh nghiệp phải làm được, sẵn sàng dồn người và thời gian để đạt Hình dung về kết quả mong muốn, dù chưa rõ đường đi
Điểm kỳ vọng 1,0 Trung bình khoảng 0,7
Đạt dưới mức kỳ vọng Phải giải thích nguyên nhân và cách khắc phục Bình thường; điểm luôn đạt 1,0 là dấu hiệu đặt quá thấp
Ví dụ Chuyển toàn bộ tài xế sang ứng dụng mới trước mùa cao điểm Tỷ lệ khiếu nại giảm hơn một nửa

Cách chấm điểm. Mỗi KR được chấm từ 0 đến 1,0 theo mức tiến bộ so với đích. KR “từ 88% lên 96%” mà cuối quý đạt 94% thì được (94 − 88) / (96 − 88) = 0,75. Điểm mục tiêu là trung bình điểm các KR của nó. Theo hướng dẫn trên re:Work, điểm trung bình khoảng 0,6–0,7 cho OKR tham vọng là vùng tốt: đủ cao để thấy tiến bộ thật, đủ thấp để cho thấy mục tiêu được đặt đủ tham vọng.

Hãy ghi rõ loại của từng OKR ngay khi đặt. Một đội tưởng mục tiêu là tham vọng sẽ vui với điểm 0,7, trong khi giám đốc coi đó là cam kết và thấy đội đã trượt 30%.

Liên kết OKR dọc và ngang giữa công ty và phòng ban

Liên kết dọc là cách OKR công ty đi xuống từng phòng. Cách làm hay gặp là lấy một KR của công ty làm gợi ý cho mục tiêu của phòng. KR “tỷ lệ giao đúng hẹn lên 96%” của công ty trở thành câu hỏi cho phòng Vận hành: “phòng mình cần thay đổi gì để con số đó xảy ra?”.

Có hai lưu ý. Thứ nhất, không chép máy móc: phòng ban tự đề xuất OKR của mình rồi đối chiếu với cấp trên, vì người làm trực tiếp thường biết rõ nhất con số nào mình tác động được. Thứ hai, không phải KR nào của công ty cũng cần một phòng riêng gánh: có KR chỉ cần một người phụ trách, có KR cần cả hai phòng.

Liên kết ngang là chỗ nhiều doanh nghiệp bỏ qua. Phòng Kinh doanh đặt KR ký thêm 30 shop mới, còn phòng Vận hành đặt KR giảm thời gian xử lý đơn tại kho. Nếu 30 shop mới cùng đổ hàng vào tháng cuối quý mà Vận hành không biết trước, cả hai KR cùng trượt. Cách xử lý đơn giản: khi các phòng đã có bản nháp, đặt OKR của từng cặp phòng cạnh nhau và hỏi “KR nào của phòng này phụ thuộc vào phòng kia?”. Mỗi phụ thuộc cần một cam kết cụ thể, ghi thành KR hoặc thành thoả thuận làm việc.

OKR khác KPI ở điểm nào?

KPI (chỉ số hiệu suất chính) và OKR đều dùng con số, nên hay bị đem ra so sánh như hai lựa chọn thay thế nhau. Cách nhìn dễ hơn là KPI giống bảng đồng hồ trên xe, còn OKR là điểm đến của chuyến đi.

Ảnh nhìn từ ghế lái xe tải lúc hoàng hôn: bảng táp-lô có ba đồng hồ tròn phát sáng màu cam gồm nhiên liệu, tốc độ và nhiệt độ; qua kính chắn gió, con đường uốn lượn dẫn lên ngọn đồi có lá cờ đỏ trên đỉnh
Đồng hồ trên táp-lô cho biết xe có đang chạy khoẻ; lá cờ trên đồi cho biết xe đang đi đâu.
KPI OKR
Trả lời câu hỏi Hoạt động có đang khoẻ không? Doanh nghiệp muốn thay đổi điều gì?
Thời gian Theo dõi liên tục, không có hạn kết thúc Theo chu kỳ, thường là quý
Mức đặt Ngưỡng an toàn, cần giữ ổn định Vượt mức hiện tại, có thể không đạt hết
Khi chỉ số xấu Báo động, xử lý ngay Học từ kết quả, điều chỉnh quý sau
Liên quan lương thưởng Thường có Nên tách ra

Hai công cụ bổ sung cho nhau. Một KPI đang xấu và cần cải thiện có thể được đưa thành KR của quý. Khi đã đạt và ổn định, nó quay về làm KPI để theo dõi. Chép nguyên bảng KPI sang làm OKR là lỗi hay gặp nhất khi mới áp dụng: Google gọi đó là OKR “vận hành như thường lệ”, tức con số sẽ đạt được mà không ai cần làm gì khác.

Ví dụ OKR quý cho một công ty giao nhận 80 người

Ví dụ giả định. Một công ty giao nhận nội địa ở TP. Hồ Chí Minh có 80 nhân viên: khoảng 55 người ở kho và đội tài xế, 12 người ở phòng Kinh doanh, còn lại là chăm sóc khách hàng, kế toán và quản lý. Khách chủ yếu là các shop bán hàng online cỡ vừa. Quý trước, tỷ lệ giao đúng hẹn nội thành là 88%, cứ 1.000 đơn có 12 khiếu nại, và 40 shop gửi từ 300 đơn mỗi tháng trở lên. Ban giám đốc đặt OKR cho quý IV.

OKR công ty

O1 (tham vọng): Trở thành đơn vị giao hàng mà các shop online tin nhất về đúng hẹn.

  • KR1: Tỷ lệ giao đúng hẹn nội thành từ 88% lên 96%.
  • KR2: Số khiếu nại trên 1.000 đơn từ 12 xuống 5.
  • KR3: Số shop gửi từ 300 đơn/tháng trở lên từ 40 lên 60.

O2 (cam kết): Vào mùa cao điểm cuối năm với toàn bộ đội tài xế trên ứng dụng xác nhận giao hàng mới.

  • KR1: 100% tài xế dùng ứng dụng mới trước 30/11.
  • KR2: 100% đơn giao có ảnh xác nhận trên ứng dụng từ tháng 12.

OKR phòng Vận hành (liên kết dọc với KR1 và KR2 của O1)

O: Mỗi đơn nội thành đi đúng tuyến ngay từ lần đầu.

  • KR1: Tỷ lệ phân loại sai tuyến tại kho từ 3% xuống 0,5%.
  • KR2: Thời gian từ nhận hàng tới xuất kho trung bình từ 5 giờ xuống 3 giờ.
  • KR3: Tỷ lệ giao thành công ngay lần đầu từ 85% lên 93%.

OKR phòng Kinh doanh (liên kết dọc với KR3 của O1)

O: Đưa các shop cỡ vừa thành khách gửi hàng thường xuyên.

  • KR1: 30 shop mới dùng thử gói giao trong ngày.
  • KR2: Tỷ lệ shop dùng thử chuyển sang hợp đồng từ 30% lên 50%.
  • KR3: Tỷ lệ shop hiện có gửi ít đi so với quý trước từ 20% xuống 10%.

Liên kết ngang. KR1 của Kinh doanh sẽ đổ thêm đơn vào kho, đúng lúc Vận hành đang cố giảm thời gian xử lý. Hai phòng thoả thuận: mỗi thứ Hai, Kinh doanh gửi dự báo sản lượng của các shop mới cho tuần tới; Kinh doanh chỉ mời dùng thử gói giao trong ngày ở các quận Vận hành đã có tuyến ổn định.

Minh hoạ isometric một kho giao nhận: bên trái nhân viên phân loại thùng hàng trên băng chuyền, bên phải nhân viên văn phòng nghe điện thoại, phía trước xe tải và xe máy giao hàng ở bến bốc hàng; phía trên là bảng lớn ghi Công ty có ba thanh tiến độ, hai mũi tên dẫn xuống hai bảng nhỏ ghi Vận hành và Kinh doanh, mỗi bảng cũng có ba thanh tiến độ đầy ở các mức khác nhau
Ba KR của công ty chia xuống hai phòng, mỗi phòng có ba KR riêng: Vận hành lo đơn đi đúng tuyến, Kinh doanh lo giữ và thêm shop gửi hàng thường xuyên.

Cuối quý chấm điểm O1:

KR Mục tiêu Thực tế Điểm
Giao đúng hẹn nội thành 88% → 96% 94% 0,75
Khiếu nại trên 1.000 đơn 12 → 5 7 0,71
Shop gửi từ 300 đơn/tháng 40 → 60 52 0,6
Điểm O1 khoảng 0,69

Với một OKR tham vọng, 0,69 là kết quả tốt: công ty đã tiến gần hơn rõ rệt mà mục tiêu vẫn đủ khó. Ở O2, nếu chỉ 97% tài xế chuyển sang ứng dụng mới trước 30/11, điểm là 0,97 nhưng vẫn tính là chưa đạt, vì đây là cam kết. Buổi chấm điểm cần trả lời 3% còn lại là ai, vì sao, và xử lý xong trước ngày nào.

Buổi chấm điểm cũng là lúc chọn OKR quý sau. KR3 của O1 đạt thấp nhất, và nhìn vào OKR phòng Kinh doanh thì nhiều shop dùng thử chưa chuyển sang hợp đồng. Đó là gợi ý tự nhiên cho mục tiêu của quý I.

Những sai lầm khi triển khai OKR

  1. Biến KR thành danh sách việc. “Tổ chức 4 buổi đào tạo tài xế” là việc làm. Sau quý, đội có thể tích xong cả 4 buổi mà tỷ lệ giao thành công không đổi. Việc làm nằm trong kế hoạch hành động bên dưới KR, không nằm trong KR.
  2. Gắn điểm OKR vào lương thưởng. Khi điểm OKR quyết định tiền thưởng, mọi người đặt mục tiêu vừa sức để chắc đạt 1,0, và OKR tham vọng biến mất. Hướng dẫn của Google nói rõ OKR không phải công cụ đánh giá nhân viên. Đánh giá hiệu suất vẫn cần, nhưng nên dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có cách người đó đóng góp vào OKR, chứ không dựa trên điểm số.
  3. Quá nhiều OKR. Năm mục tiêu, mỗi mục tiêu năm KR, cho một phòng mười người, nghĩa là không có gì được ưu tiên.
  4. Không ghi rõ cam kết hay tham vọng. Hệ quả là cuộc tranh cãi cuối quý về việc 0,7 là tốt hay tệ, như đã nói ở phần chấm điểm.
  5. Đặt xong rồi cất. Không có buổi xem lại hằng tuần, OKR trở thành tài liệu của buổi họp đầu quý.
  6. Chép KPI sang làm OKR. Những chỉ số sẽ tự đạt nếu mọi thứ chạy như cũ không tạo ra thay đổi nào.

Khi nào chưa nên áp dụng OKR

OKR giả định doanh nghiệp đã biết mình muốn đi đâu. Nếu ban lãnh đạo chưa thống nhất được chiến lược, OKR chỉ làm cho sự mơ hồ trông có vẻ đo được. Trước khi đặt mục tiêu quý, nên rõ mô hình kinh doanh đang dựa vào đâu: Business Model Canvas giúp nhìn khối nào cần thay đổi, còn chuỗi giá trị của Porter giúp chỉ ra hoạt động nào tạo ra lợi thế, và đó thường là chỗ đáng đặt mục tiêu nhất. Với công ty giao nhận trong ví dụ, đó là khâu phân loại tại kho và giao hàng chặng cuối.

OKR cũng khó chạy khi doanh nghiệp chưa có dữ liệu cơ bản. Không đo được tỷ lệ giao đúng hẹn thì không đặt được KR về nó. Khi đó, KR đầu tiên có thể là tự đo được con số ấy, và đó là một OKR cam kết hợp lý cho quý đầu.

Cuối cùng, nếu người đứng đầu không tham gia buổi chấm điểm, các phòng sẽ nhanh chóng coi OKR là thủ tục. Bắt đầu từ cấp công ty và một hai phòng, chạy thử một quý, rồi mới mở rộng.

Dùng AI để viết và rà soát OKR

AI giúp được OKR ở ba việc. Thứ nhất, rà bản nháp: chỉ ra KR nào là việc làm, KR nào thiếu mức xuất phát, mục tiêu nào quá chung. Thứ hai, tìm lỗ hổng liên kết: đặt OKR của nhiều phòng cạnh nhau và chỉ ra chỗ phụ thuộc chưa ai nhận. Thứ ba, chuẩn bị buổi chấm điểm: tính điểm từng KR từ số liệu thực tế và gợi ý câu hỏi cho buổi xem lại.

Việc AI không làm thay được là chọn mục tiêu. Ưu tiên của quý là quyết định của ban lãnh đạo, dựa trên hiểu biết về khách hàng và đội ngũ mà AI không có.

Câu lệnh mẫu:

Bạn là chuyên gia quản trị mục tiêu theo OKR. Hãy rà soát bộ OKR quý [quý, năm] của [loại hình doanh nghiệp, quy mô].
Bối cảnh: [chiến lược năm, vấn đề lớn nhất hiện tại, số liệu quý trước]
OKR công ty: [dán mục tiêu và KR]
OKR các phòng ban: [dán OKR từng phòng]

Yêu cầu:
1. Với mỗi KR: kiểm tra có đủ chỉ số, mức hiện tại, mức cần đạt không; KR nào là việc làm thay vì kết quả thì viết lại thành kết quả.
2. Với mỗi mục tiêu: các KR cộng lại đã đủ chứng minh mục tiêu chưa; nếu chưa, đề xuất KR còn thiếu.
3. Đề xuất mỗi OKR nên là cam kết hay tham vọng, giải thích ngắn.
4. Liệt kê các chỗ phụ thuộc giữa các phòng (liên kết ngang) và đề xuất cam kết cụ thể cho từng chỗ.
5. Chỉ ra OKR nào thực chất là KPI vận hành như thường lệ.
Chỗ nào thiếu số liệu hoặc bạn phải tự suy đoán, hãy ghi rõ là giả định.

Điều cần nhớ về OKR

OKR có hai phần: một mục tiêu viết bằng lời và vài con số chứng minh mục tiêu đã tới. Đặt ít, ghi rõ cam kết hay tham vọng, xem lại hằng tuần, chấm điểm thẳng thắn cuối quý, và để điểm số ngoài bàn tính thưởng. Đến buổi họp cuối quý, câu hỏi “đã thay đổi được gì?” sẽ có câu trả lời bằng con số, không chỉ bằng một danh sách việc đã tích xong.

Đọc thêm trong thư viện mô hình: Chuỗi giá trị của Porter · Business Model Canvas · Phân tích SWOT làm đúng cách


Nguồn tham khảo: Peter F. Drucker, The Practice of Management, 1954; Andrew S. Grove, High Output Management, 1983 (tái bản Vintage Books, 2015); John Doerr, Measure What Matters, Portfolio/Penguin, 2018; Google re:Work, “Guide: Set goals with OKRs”; Google, “OKR Playbook”, đăng lại trên whatmatters.com.

Doanh nghiệp của bạn đang cần một lộ trình AI có chiến lược?

Hãy cùng trao đổi để tìm ra hướng đi phù hợp, dựa trên thực tiễn kinh doanh và kinh nghiệm triển khai cho nhiều doanh nghiệp.

Liên hệ tư vấn